Tiến Sĩ Thần Học Luân Lý

Trong việc chọn lọc những câu hỏi, chúng tôi cố gắng lưu ý đến nhiều phương diện khác nhau của lẽ đạo, nhất là những vấn nạn liên quan đến luân lý, là phương diện bức xúc nhất trong đời sống Kitô hữu ngày nay. Ðể trả lời những thắc mắc, quan điểm của chúng tôi được đặt trên căn bản là Lời Chúa, Truyền Thống và Huấn Quyền của Giáo Hội. Quan điểm ấy cũng cố gắng kết hợp giữa suy tư thần học và thực tế mục vụ.

Ðương nhiên, trong khuôn khổ nhất định của đề mục này, những giải đáp của chúng tôi không thể bao gồm tường tận mọi chi tiết. Vì thế, ngoài mục đích chính là cống hiến những hiểu biết căn bản để giải tỏa những băn khoăn, hy vọng những giải đáp này cũng gợi ý và động viên sự chú tâm tìm hiểu kỹ càng những bài nghiên cứu hệ thống hơn.

Mục Hiểu Ðạo - Sống Ðạo mong ước được trở nên người bạn đồng hành để chia sẻ với Quý Ðọc Giả những băn khoăn trong hành trình Ðức Tin hằng ngày. Mọi thắc mắc liên quan đến việc tìm hiểu để sống đạo, xin Quý Vị vui lòng gởi về cho chúng tôi quađịa chỉ email Dominiquebao@hotmail.com hay tòa soạn ÐMHCG

Rượu Thánh Máu Chúa Kitô.uống vẫn say

Hỏi: Thưa cha, con là độc giả của báo Ðức Mẹ HCG từ Việt Nam đến nay. Hiện (.) con đang dạy giáo lý tân tòng. Có nhiều vấn đề con không được thông suốt, mong cha vui lòng giải đáp. Hôm nay xin cha giúp cho con 2 thắc mắc sau đây:

a. Trong sách STK 1:26 nói rằng Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Trong phúc âm Yoan 14:8-10, ông Philiphê xin Chúa: "Lạy Thày, xin chỉ cho con được thấy Cha.". Chúa đáp: "Hỡi Philiphê, ai thấy Thày là thấy Cha Thày.". Vậy, con người giống hình Chúa ở thân xác (body) hay là về linh hồn, trí khôn? Có người dựa vào câu phúc âm trên để nói Ðức Chúa Cha giống như Chúa Giêsu! Nói vậy có ổn không?

b.Bánh và rượu sau khi đã được linh mục truyền phép thì đã trở thành Mình và Máu Chúa Kitô thật. Như vậy, sau khi truyền phép chất thể bánh và rượu vẫn còn hay đã biến mất? Nếu đã biến mất và thành Máu Chúa rồi sao mình uống vào vẫn cảm thấy mùi rượu, và uống nhiều vẫn say? Sự kiện này phải giải thích làm sao?

(Maria Huyền Linh -Toronto, Canada)

Ðáp: a) Như mạc khải Kinh thánh cho chúng ta biết con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa. Nhưng, Kinh thánh không phải là cuốn sách về môn sinh vật học, chúng ta không nên đọc sách này theo nghĩa vật chất. Con người giống hình ảnh Thiên Chúa trước nhất phải được hiểu theo nghĩa tinh thần.

Trong bối cảnh của đoạn STK 1:26 "Thiên Chúa đã phán: Ta hãy làm ra con người theo hình ảnh ta, như họa ảnh ta" trên đây, các nhà chú giải Kinh thánh cắt nghĩa rằng con người giống hình ảnh Thiên Chúaở hai yếu tố. Thứ nhất, vì con người (biểu tượng qua Adam) có quyền thống trị trên muôn thú và các tạo vật khác trong vườn địa đàng. Ðể làm nổi bật ý nghĩa này, tác giả STK cho thấy Thiên Chúa đã dựng muôn loài trước để khi con người được tạo thành thì cai quản chúng. Chúa đặt con người cao trọng trên mọi loài khác để gần gũi với hình ảnh Ngài hơn. Thứ hai, vì con người có bản sắc tâm linh, nghĩa là linh hồn. Ðiều đó hiển nhiên với những khả năng Chúa chỉ đặc biệt ân ban cho con người. Tri thức (Reason) để suy tư, phán đoán đúng/sai, thiện/ác. Tự do (Free Will) để chọn lựa sự thiện, và tiến đến hiệp thông với Thiên Chúa và tha nhân. Các loài tạo vật khác như cỏ cây, muông thú, v.v. không được nói là giống hình ảnh Thiên Chúa cũng bởi vì chúng không có linh hồn, tri thức, tự do như con người.

Tóm lược tất cả suy tư triết lý và thần học công giáo về con người như hình ảnh Thiên Chúa, sách Giáo lý Công giáo viết như sau : "Vì là hình ảnh Thiên Chúa nên cá nhân con người có phẩm giá một nhân vị: (.). Con người có khả năng nhận thức, tự làm chủ mình, tự do hiến thân mình và hiệp thông trong yêu thương với tha nhân. Nhờ ân sủng, con người còn được mời gọi yêu mến, kết hợp với Thiên Chúa, đáp trả Tạo Hóa của mình bằng Ðức Tin và Ðức Mến mà không tạo vật nào khác có thể làm thay" (GLCG # 357).

Cũng vậy, câu Chúa nói với Philiphê: "Ai trông thấy Thày là trông thấy Cha" hàm chứa ý nghĩa thiêng liêng hơn là vật chất. Ở đây, Chúa Giêsu muốn nói rằng Ngài là sự mạc khải chân thực về bản chất của Chúa Cha: yêu thương, tha thứ, toàn năng trong việc cứu độ con người. Ngài và Chúa Cha là một trong sự hiệp thông tuyệt đối: "Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày" (Yn 14:11). Kinh tin kính dạy chúng ta rằng Chúa Giêsu là con một Thiên Chúa, sinh bởi Cha từ trước thời gian, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, đồng bản thể với Ðức Chúa Cha.". Như vậy, nếu nói rằng Chúa Giêsu giống Chúa Cha, ta phải hiểu theo ý nghĩa tinh thần, và tránh tập chú vào nghĩa thể lý.

b) Công đồng Lateranô (thế kỷ 13) và nhất là Công đồng Trentô (thế kỷ 16) đã nhấn mạnh giáo thuyết về mầu nhiệm Biến Thể (Transubstantiation) của bánh và rượu nên Mình và Máu Chúa Kitô. Theo giáo thuyết ấy, trong thánh lễ, sau lời truyền phép, sẽ diễn ra sự biến đổi mầu nhiệm và tuyệt đối: tất cả bản thể của bánh trở nên Mình Thánh Chúa và tất cả bản thể của rượu trở nên Máu Thánh Chúa (CÐ Trent). Chính bởi sự biến đổi ấy mà có Sự Hiện Diện Thực (Real Presence) của Chúa trong bánh và rượu thánh.

Phải nói rằng lối diễn tả giáo thuyết này chịu ảnh hưởng xâu đậm của ngôn ngữ triết lý. Triết gia Aristote từ xa xưa, và thánh tiến sỹ Thomas Aquinô thời trung cổ, chủ trương rằng các sự vật đều được thành hình từ 2 yếu tố nền tảng: Bản thể (substance) và Tùy thể (accident). Nói nôm na, bản thể là tính chất bên trong, tùy thể là hình dạng bên ngoài. Bản thể liên quan đến yếu tính của sự vật, trong khi tùy thể gắn liền với dạng thức của sự vật. Ví dụ con người có bản thể (hay yếu tính) chung là người. Nhưng cá nhân người này khác người kia là ở tùy thể (hình dạng) bên ngoài (như da vàng, da trắng, da đen, cao, thấp, v.v.). Áp dụng ý niệm triết lý ấy vào mầu nhiệm Biến Thể (transubstantiation) và Sự Hiện Diện Thực (Real Presence) của Chúa trong Bí tích Mình Máu Thánh, chúng ta có thể hiểu cách tóm lược như sau. Qua lời nguyện truyền phép, bánh và rượu chỉ còn hình dạng bên ngoài (tùy thể) mà thôi; bản thể bên trong của bánh và rượu ấy đã biến thành Mình và Máu Chúa Kitô. Nói cách khác, vẫn còn là bánh rượu vật chất đó, nhưng thực ra, bản chất đã là Mình và Máu Chúa. Sự biến đổi này là do quyền năng của Thiên Chúa, Ðấng đã sáng tạo và cũng có quyền tuyệt đối trên mọi vật.

Phân tích trên đây cho thấy tuy là Mình và Máu Thánh Chúa về phương diện bản thể bên trong, bánh và rượu thánh vẫn còn dạng vật chất bên ngoài của bột lúa miến và cốt rượu nho. Ðó là lý do tại sao, rượu Máu Thánh Chúa vẫn còn mùi rượu và.uống vào vẫn say.


Thiên Chúa Kitô giáo là ai?

(Trong câu này, chúng tôi tiếp tục trả lời các thắc mắc mà tác giả ký tên Nhóm Bạn Già Tìm Hiểu Ðức Tin đã gửi đến hộp thư HÐSÐ từ trước).

Hỏi: Chúng tôi có cảm tưởng (Cựu ước) là lịch sử đầy máu nước mắt của dân tộc Do thái (.) mà những nhà yêu nước muốn kêu gọi sự hưởng ứng của dân nên họ phải tạo dựng nên 1 Ðấng Thần Linh và đưa vào vấn đề này để khích động tự ái dân tộc, lòng yêu nước ..(tương tự như dân Việt Nam ta với huyền thoại con rồng cháu tiên. v.v.) (.) Do đó dân luôn trông chờ một đấng anh hùng giải thoát.

Cũng chính trong hoàn cảnh lịch sử đó, đấng Jesus đã xuất hiện. Ngài là một nhà cách mạng tôn giáo. (.) Như thế, đức Jesus chịu đóng đanh là do ngài bị chụp mũ chính trị, vì ngài đã dám xúc phạm đến giai cấp quyền thế, tăng sĩ tôn giáo lúc bấy giờ. Tại sao chúng ta nói ngài hiến tế mạng sống của Ngài để làm giá cứu chuộc linh hồn của nhân loại. Tại sao chúng ta phải tin ngài là thượng đế?

(Nhóm Bạn Già Tìm Hiểu Ðức Tin)

Ðáp: Chúng tôi nhận thấy rằng trong thời đại khoa học thực nghiệm ngày nay, với thói quen phân tích, sưu tra tính xác thực của những trào lưu, biến cố, tài liệu hoặc những nhân vật lịch sử, người ta thường có khuynh hướng đọc Kinh thánh đơn thuần như một cuốn sử ký, hoặc tài liệu khoa học. Từ đó, những giáo lý mang ý nghĩa và giá trị tiên vàn tâm linh của Kitô giáo sẽ được ghi nhận và phê phán dưới khía cạnh hoàn toàn nhân bản, theo một ý nghĩa chính trị, lịch sử, văn hóa nào đó. Trong hoàn cảnh này, dĩ nhiên con người và sứ mạng của Ðức Giêsu Kitô cũng sẽ được hiểu một cách rất khác lạ với cách hiểu của người Kitô hữu.

Chúng tôi nhận định rằng Kinh thánh, tuy là cuốn sách bằng ngôn ngữ loài người, đề cập đến vài sự kiện lịch sử loài người, sách ấy không bao giờ nhằm mục đích khảo cứu lịch sử, hay minh chứng gì về khoa học. Có thể nói mục đích của sách ấy siêu lịch sử. Nhằm trình bày những suy tư và lời đáp giải cho những vấn đề muôn thuở của nhân loại (tội/phúc; đau khổ/hạnh phúc; sống/chết, v.v.), và nhất là nhằm mạc khải chân lý cứu rỗi (rằng Thiên Chúa đã yêu thương, sáng tạo và cứu độ con người), Kinh thánh mang một giá trị và ý nghĩa thiêng liêng. Sứ điệp của Sách ấy thuộc về phạm trù tâm linh hơn là chính trị, lịch sử trần thế. Chính trong ý nghĩa ấy mà ta phải đọc và tìm hiểu Kinh thánh.

Từ căn bản ấy, chúng tôi xác tín rằng Thiên Chúa không phải là 1 Ðấng Thần Linh huyền thoại do dân Do thái tạo dựng nên. Yavê Thiên Chúa trong Cựu ước mạc khải rằng "Ta là Ðấng tự hữu" (Xuất hành 3:14). Ngài là Ðấng Toàn năng, tự có. Chính Ngài là Ðấng đã tạo dựng nên nhân loại và lịch sử của họ chứ không phải ngược lại. Ðây là điểm then chốt trong niềm tin Kitô giáo, và cũng là điểm phân định rõ ràng sự khác biệt giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác: Kitô giáo là đạo mạc khải, đạo Thiên Chúa đến với con người để chỉ cho họ biết về Ngài, và chương trình yêu thương của Ngài. Kitô giáo không phải là đạo nhân tạo (con người dựng nên) để thỏa mãn nhu cầu tinh thần của họ.

Cũng vậy, Ðức Giêsu Kitô trong Tân ước không phải là 1 thứ anh hùng dân tộc, hay nhà cách mạng tôn giáo nào đó. Mặc dầu, về sự kiện lịch sử thì quả thật giới cầm quyền đạo Do thái thời ấy đã lập mưu giết Ngài vì những đạo lý tôn giáo của Ngài. Tuy nhiên, sự kiện ấy siêu lịch sử. Vì biến cố ấy đã xảy ra để ứng nghiệm những gì Kinh thánh Cựu ước đã nói về Ðấng Cứu Chuộc và sứ mạng thống khổ của Ngài (xem Isaia các chương 49-52). Sứ mạng đó được định trước từ lâu trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa chứ không phải là một biến cố bất trắc xảy ra trong lúc Chúa Giêsu tại thế. Sứ mạng đó nhắm đến sự hy sinh mạng sống của Chúa Giêsu như là một việc dâng hiến tự nguyện chứ không phải là một việc xui xẻo chẳng đặng đừng. Chính Chúa Giêsu đã xác nhận với các môn đệ mình điều đó: "Mạng sống ta, không ai lấy được, nhưng chính ta tự ý hy sinh; (.) ta cũng có quyền giữ lại mạng sống ấy" (Yn 10:18). Như vậy, sự chết của Chúa Giêsu mang giá trị thiêng liêng là cứu chuộc linh hồn nhân loại chứ không phải thuần túy vì lý do chính trị. Vì thế, Ðức Kitô không phải là một nhà cách mạng xã hội, tôn giáo, mà chính là Thiên Chúa.

Dĩ nhiên, điều xác tín trên không phải ai cũng chấp nhận và hiểu được nếu không có Ðức Tin. Pascal nói "Hãy tin! rồi thì bạn sẽ thấu suốt" (Pensée). Cho nên, câu hỏi "Tại sao chúng ta phải tin ngài là Thượng đế?" có thể được đặt lại cách căn bản, vắn gọn hơn: "Tại sao chúng ta phải tin?" Nhưng, Ðức Tin luôn là một hồng ân chứ không chỉ đơn thuần là kết quả của sự suy lý, cho dù lý luận có đúng đến đâu. Vì thế, đọc xong câu giải đáp này, nên cầu nguyện cùng Thiên Chúa để xin ơn Ðức Tin là điều cần thiết hơn nhiều.


Ðức Mẹ Vô Nhiễm và Tội Nguyên Tổ

Hỏi: Thưa cha, báo Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp số tháng 8/2004 vừa qua có đăng một bài về Ðức Maria Vô Nhiễm Thai. Trong bài ấy, có đề cập tới sự khác biệt giữa tội truyền và tội tổ tông. Bài ấy cũng dùng những danh từ như vô nhiễm thai, vô nhiễm tội truyền thay vì dùng chữ vô nhiễm nguyên tội. Con không rõ cách dùng chữ như vậy có ổn không? Tư tưởng của bài viết ấy có gì trái lạ với giáo lý Công giáo về tín điều này không? Xin cha cho biết ý kiến.

(Ẩn Danh - California)

Ðáp: a) Dựa theo mạc khải Kinh thánh, nhất là theo tư tưởng của Thánh Phaolô trong Thơ gửi tín hữu Rôma, tín lý Công giáo luôn nhìn nhận có tội tổ tông. Ðó là việc Adam nguyên tổ loài người đã phản nghịch cùng Thiên Chúa. Hành động phản nghịch này là một sự kiện lịch sử đã xảy ra lúc khởi đầu nhân loại.

Nhưng chi tiết hơn, tín lý Công giáo cũng ghi nhận rằng việc phản nghịch này đã dẫn đến hậu quả cụ thể như sau. Nó làm cho Adam mất đi sự thánh thiện, công chính nguyên thủy và hồng ân trường sinh mà Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại từ đầu. Do đó, con người, với tính cách là dòng dõi Adam, khi sinh ra thì bị (mắc nhiễm) rơi vào tình trạng thương tích, yếu đuối, nghiêng chiều về tội lỗi. Chính tình trạng ấy là yếu tố nền tảng khiến mỗi con người có thể làm nên mọi tội lỗi. Và chính tình trạng ấy là nguyên tội (tội nguyên thủy, hay nguyên do của mọi hành động tội).

Như vậy, theo Ðức Tin Công giáo, quả thật ta có thể phân biệt rằng có tội nguyên tổ (sin of Adam) và có tội nguyên thủy (original sin). Tội nguyên tổ (tội tổ tông) là hành động lịch sử của Adam. Trong sách Khởi nguyên, tội đó được diễn tả cách triết lý, bóng bảy, qua chuyện Adam và Eva ăn trái cấm trong vườn địa đàng. Tội nguyên thủy (tội nguyên tổ, tội truyền) là một tình trạng yếu nhược mà mỗi người đều mang trong mình, khiến ta có thể làm những việc tội lỗi cụ thể.

Ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô là nhằm vào việc giải thoát nhân loại khỏi tình trạng nguyên tội này, và hoàn lại cho con người những hồng ân nguyên thủy. Tác động của bí tích thánh tẩy là nhằm thực hiện việc giải phóng ấy cách cụ thể (xem thêm chi tiết trong Sách Giáo lý Công giáo, khoản 413-421)

b) Trước hết, chúng tôi xin trả lời về việc dùng các cụm từ vô nhiễm thai, vô nhiễm tội truyền và vô nhiễm nguyên tội. Trong sắc chỉ Ineffabilis Deus (1854), Ðức Giáo Hoàng Piô IX công bố tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội như sau: ".Vào giây phút đầu tiên khi được đầu thai, Ðức Trinh Nữ Maria rất diễm phúc đã được bảo vệ toàn vẹn khỏi mọi tỳ ố tội nguyên tổ, nhờ đặc ân của Thiên chúa toàn năng.". Khi hiện ra với thánh Bernadette ở Lộ-đức, Ðức Mẹ đã nói với chị thánh bằng thổ ngữ của chị rằng: "Que soy era Immaculada Councepciou - Ta là Ðấng tinh tuyền (khi được) tượng thai!"

Cả hai yếu tố ghi nhận trên đây cho phép chúng ta hiểu (và tin) rằng việc Ðức Mẹ không bị vương nhiễm tội nguyên tổ từ giây phút đầu thai trong lòng mẹ mình (thánh Anna) là một sự thật của niềm tin Công giáo. Ðó là một đặc ân "nhân danh công nghiệp của Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Ðộ nhân loại" (Inffabilis Deus), Ðấng mà Maria sẽ cưu mang và hạsinh từ cung lòng mình.

Khi hiểu và công nhận ý tưởng tín lý căn bản trên, việc diễn tả sẽ ổn thỏa thôi. Vì nếu đồng ý rằng tín điều Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội nghĩa là Mẹ được thành thai và sinh ra trong tình trạng nguyên tuyền, miễn nhiễm tội tổ tông và hệ quả của tội đó, thì nói rằng đó là ơn vô nhiễm thai, vô nhiễm tội truyền, hay vô nhiễm nguyên tội, thật ra cũng là nhắm đến tín lý ấy. Vấn đề ở đây chỉ là vấn đề từ ngữ.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com