Bị Ðuổi

Sau khi nhận thấy thái độ bất công của cha xứ cứ ngày một găng, những anh cậu lớn thấy khó mà chịu đựng nổi, nên đã cuốn gói và xin về. Thế nghĩa là họ phải mang cái tiếng là "phá giới." Vì quan niệm số đông bổn đạo khi ấy còn cho việc tu xuất là kém cỏi, là... lôi thôi, và thường, ít là một thời gian, họ coi rẻ nhưng người tu xuất lắm. Nên thường những người tu xuất mà không có lý chứng nào biện bạch cho thì rất nhục. Lại thường thường bổn đạo vì lòng thành kính chức bậc thày cả, nên ít khi họ dám chú ý đến những cái bất công, mà con dám nói, là "có" ở phần đông các linh mục thời ấy. Và do sự thành kính ấy, các linh mục ấy đã lợi dụng rất nhiều, mà những người biết, và bị ở trong những cảnh huống bất công ấy, không hề dám hé miệng thở than một lời nào. Do đó đã xẩy ra những vụ đáng buồn. Nhưng những sự đáng buồn ấy cha cho phép con miễn kể ở đây và nếu có cần con xin kể vào một dịp riêng.

Bởi thế, những anh cậu xin về, là phải chịu một điều tiếng không hay trước mặt người đời. Chứ họ không thể làm cho người ta tin được rằng: Vì cha xứ thế nọ với thế kia nên họ phải xin về...

Những anh xin về, được cha xứ chấp thuận ngay, và họ phải ra đi với một sự nghèo khó và khổ sở rất mực. Cha đừng tưởng cha xứ sẽ cho họ đủ số tiền tiêu về đến nhà tùy xa gần? Không, có chăng, chỉ đủ được vài xu uống nước chè. Nên có anh phải bán áo xống đi để lấy tiền lộ phí về nhà quê.

Họ vừa ra đi, thì trong nhà xứ lại có câu truyện lộn xộn. Cha xứ thấy vậy, liệu chừng những anh cậu nhơ nhỡ có anh nào biết điều một tí, người cho thải hồi về nhà quê ngay. Trong số 15 cậu, thế là còn vỏn vẹn có 8 nữa thôi.

Nhưng trong số 8 ấy, mấy ngày sau cũng hụt mất ba, còn năm. Trước khi ấy, cha Yoseph Nghĩa, phó xứ tỉnh Thái Nguyên có viết thư xin cha Nhã cho mấy cậu lên giúp xứ trên ấy. Và cha Nhã đã hứa cho 4 anh. Nhưng nay thấy "chiến tranh" làm hụt đi mất hai phần ba, nên người đành phải bớt đi hai, còn hai.

Trong số hai ấy không có tên con, mặc dầu con đã ao ước hết sức, vì con cảm thấy gương tội lỗi ở trong cái nhà xứ tồi tàn này đã chất nặng trên tâm hồn con, và con hầu như không thể đành sống như thế mãi được nữa. Con chỉ muốn thoát ly. Và hàng ngày con cũng chỉ xin Ðức Mẹ mau mau cứu con thoát khỏi nơi này. Nhân dịp này con cũng đã làm tuần chín ngày kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp để xin Người liệu cho con được đi Thái Nguyên.

Ðức Mẹ đã nhận lời con van xin, nhưng đã đưa đến cho con một dịp may bất ngờ. Ðược đi Thái Nguyên, con gọi được là một dịp may, nhưng để được cái may ấy, con đã phải chịu nhục nhã biết bao điều!

Vậy ngày hai anh cậu được chọn đi Thái-nguyên giúp cha phó Nghĩa, thì cũng là ngày cha xứ sai con đi giúp lễ cho người ở Tam Lộng. Sáng ấy là lễ hai thánh Phêrô và Phaolô, bổn mạng họ Tam Lộng, cha xứ sửa soạn lên làm lễ cho họ, và người bảo con đi theo.

Thường thường, được theo cha xứ đi về các họ lẻ là một đặc ân hiếm hoi lắm, và anh cậu nào cũng thích được đặc ân ấy, kể cả con cũng rất thích được "đi họ."

Vì ở đó, dầu mà cho thế nào đi chăng nữa, có nghèo khổ đến đâu, thì đồ ăn thức uống và những cánh người ta xử đãi còn bằng mười ở nhà "cụ xứ." Và khi bỏ đó ra đi, thế nào cũng kiếm được dăm ba hào để mua xà phòng, hoặc bút giấy tiêu dùng. Nên dịp này, tất nhiên con cũng thích như con thường thích. Nhưng chỉ khổ có mỗi một nỗi, làm con phải từ chối, là vì con không có quần.

Tất cả gia nghiệp con hiện giờ chỉ còn một cái quần và một cái áo mà thôi. Thế mà đã nghèo, lại còn thêm khổ nữa! Chiều hôm qua con phải đi chăn vịt, bị trời mưa, làm ướt hết cả cái bộ đồ độc nhất của con. Thế là con phải đi thuê quần bằng một giá "đun nước hai tuần lễ" cho anh cậu đã cho con thuê quần. Còn quần của con thì con đem giặt và phơi trong bếp cho chóng khô.

Nhớ lại cái thời phải thuê quần, mà con lại phải buồn cười nôn ruột. Nhưng muốn khỏi cởi truồng thì phải chịu đựng tất cả những nông nỗi khó khăn do tụi đầu cơ quần gây ra.

Và để cha giải trí một tí, con xin để lại câu truyện trên, mà kể hầu cha câu truyện đầu cơ quần để cho thuê.

Có lắm anh lợi dụng lòng tốt của con mà "cuỗm" mất cả cái gia tài áo xống của con. Ban đầu thì họ mượn xong rồi họ xin. Mà xin rồi họ trữ lại đó, để khi anh nào thiếu, họ đem cho thuê. Họ cho thuê bất cứ là bằng tiền, hay là bằng công việc làm. Nhiều khi, muốn cho công thuê cao lên, họ tìm đủ cách chê bai anh đến thuê là: "ghẻ tầu" với lại:"anh lắm rận lắm," hay hoặc: anh có tật hay "tháo cống" ban đêm lắm...v.v. để bắt anh đến thuê phải chịu một cái giá cao theo ý họ. Trước kia con giầu có lắm, và cũng tưởng sẽ chẳng bao giờ con lâm vào cảnh đi thuê quần. Nhưng từ ngày chạy trốn hụt, con đã mất gói áo quần. Rồi sau lại bị cha xứ phạt, không phát cho đồ gì che mặc trong năm ấy theo lệ thường. Thế là con vỏn vẹn chỉ còn có một bộ đồ mặc từ ngày chạy trốn về đến nay. Nên tuần nào con cũng phải đi thuê quần để giặt quần của con.

Những anh trước đã được con thương giúp đỡ họ tận tình, nay thấy con đã ra nghèo túng, đàng khác, còn bị cha xứ "thanh trừng" luôn nên họ chả ơn với huệ gì, còn dúi thêm đau khổ cho con. Họ cũng bắt con phải thuê quần của họ như ai... và...v.v. ôi con xin mạn phép khỏi tả...

Ðến hôm ấy, anh cậu cho con thuê quần đã trông hòng được cha xứ cho đi, vì quê anh ta cũng ở gần Tam Lộng. Anh ta mong có dịp để về thăm mẹ. Nhưng khi thấy cha xứ sai con đi, mà lại không sai anh ta đi. Anh ta đâm ra bực tức, giở quẻ đòi quần con lại.

- Không, theo lời hẹn, tớ đã chịu đun nước hầu cho anh hai tuần lễ, thì tớ có quyền mặc quần của anh cho đến lúc quần của tớ khô.

- Không được, nhưng bây giờ tớ cần quần... Con hiểu ngay ý anh ta, nên con bằng lòng làm vui lòng anh ta, con đáp:

- Ðược, tớ sẽ lên xin cụ cho anh đi Tam Lộng, còn tớ ở nhà cũng được...

Rồi con lên thưa cha xứ:

- Trình cha, xin cha cho cậu Tôn cậu ấy đi Tam Lộng.

- Thế còn "quan tướng Văn" ở nhà làm gì? Người ngừng một lát, trợn mắt nhìn trừng trừng vào con, rồi người tiếp:

- Tao bảo thì phải nghe... thằng nào tao bảo đi thì phải đi. Sao mày lại đùn cho thằng Tôn?

- Bẩm cha vì con...

- Con con cái gì?

- ... Con không có quần...

Con biết, đôi co với cha xứ là vô phép, nên con đành ngậm câm, lấy vạt áo gạt qua đôi mắt ướt, đi xuống nhà dưới, cởi trả quần anh kia, vào lấy bộ quần ẩm của con mặc vào, rồi xách điếu lẽo đẽo theo cha xứ. Trời vẫn âm ỷ mưa, như xui gợi một nỗi buồn không bờ bến trong cõi lòng khổ não của con.

Trời mưa, quần ẩm, gió lạnh tạt vào... chỉ đi được một quảng đường từ nhà xứ ra khỏi cổng làng thôi, con phát lên cơn đau bụng dữ dội. Mặc dầu thế con vẫn gắng đi, hy vọng rằng nhờ hơi ấm trong người toát ra, quần con sẽ mau khô, và có lẽ sẽ hết đau bụng. Song chỉ được một quãng, cơn đau quặn lên làm con không thể nào gượng bước được nữa. Con phải ngồi sang bên vệ đường, đợi cho đỡ cơn đau rồi sẽ đi. Lúc ấy con không làm sao cho mắt con khỏi ướt được. Con nghĩ đến thân phận mình thật là quá tủi nhục!...

Bỗng cha xứ nhìn lại. Người đã đi cách con một đỗi khá xa. Khi thấy con ngồi úp mặt khóc bên vệ đường, người liền quay trở lại, đến bên con người hỏi:

- Thằng này, không đi, sao lại ngồi đây làm gì?

Con đứng dậy vòng tay đáp:

- Trình cha, con đau bụng quá, con ngồi đợi cho đỡ đau một tí rồi con đi sau.

- Ðau bụng à? Thằng này nó khéo chèo chống lắm đây.

Thế là người giơ ngay gậy lên, nện vào lưng con hai cái, rồi lại lấy đầu gậy còn dính đầy bùn, dúi vào đầu con một cái nữa, làm con loạng quạng xuýt ngã.

Khi ấy, không nói, cha cũng có thể đoán, con đau khổ, và bực tức đến độ nào? Con toát cả mồ hôi trán ra, và khóc nức nở.

Ðánh con xong, cha xứ đuổi con trở về nhà xứ, người cũng theo con về, bảo cậu khác đi Tam Lộng thay cho con. Còn con thì người tống cổ lên Thái nguyên với hai cậu kia. Người dặn quan trương dẫn chúng con đi Thái Nguyên rằng:

- Lên đấy, hễ cha Nghĩa không nhận thằng Văn thì anh cứ tống nó về giả bố nó... Thằng, thằng, thật mất dậy thật.

Cơn cực trong lòng con đang ứ lên đến tận cổ. Nhưng vừa nghe cha xứ lên án tống cổ con lên Thái Nguyên, con thích chí quá, có thể tươi ngay nét mặt lên được, mặc dầu con vẫn còn đang đau bụng.

Con tự nghĩ: Thế là từ nay hết phải thở cái không khí nặng nề ở cái nhà xứ tội lỗi này nữa. Con cũng không quên cám ơn Ðức Mẹ đã lo liệu cho con được gặp may đến thế.

Con vội vàng thu xếp đi Thái Nguyên ngay sáng ấy. Con cũng không quên nhắn lời từ tạ bà bá Sáu, người mà con thường gọi là "người mẹ nuôi quí mến."

Con ra đi với một sự nhuốc nha không ai bằng. Vì ngoài những lời nhiếc mắng thậm tệ của cha xứ, con không còn được một sự yên ủi nào khác nữa, cả đến một đồng xu cha Nhã cũng không cho. Người bảo: Con đã ăn cắp của người nhiều rồi, nên bây giờ người không cho. Tuy thế, cứ nghĩ đến sự may mắn được thoát ra khỏi nhà này, lòng con đã vui reo lên, và không còn một sự nhục nhã nào có thể làm con buồn được nữa.

Khi đã bước chân lên xe lửa, con thở mạnh một cái thật dài, rồi bắt đầu hát bài: Mẹ ơi! con cám ơn Mẹ dường bao...

Hai anh bạn cùng đi với con, thấy con có vẻ khiêu đời quá. Họ bảo con:

- Người ta nhiếc mắng anh thế, mà anh còn có vẻ điềm nhiên được như thế à?

Con không trả lời. Họ lại tiếp:

- Chắc anh không phải là một người biết cảm xúc hơn nữa, anh là một đứa... mặt dầy.

- Phải, nếu như mặt tôi không dầy, không chắc tôi đã chịu đựng nổi những cái mà người ta xỉ nhục tôi. Nhưng bởi vì mặt tôi dầy, nên người ta tát tôi, mà lòng tôi vẫn cứ sẵn một nụ cười tươi tỉnh...

Từ giây phút ấy, hai anh bỏ lảng con đi. Họ rủ nhau đi ăn quà. Còn con thì đến Thái Nguyên mới được cha Nghĩa cho năm xu đi ăn phở.

Nhưng giả như có tiền mà họ ăn quà, thì con cũng chả nghĩ ngợi gì cho lắm. Có điều làm con phải rớt nước mắr ra, là họ vừa ăn vừa nhem nhẻm nhèm nhem, có thèm ta cho cục đá!..., làm con bị nhục nhã hơn là thèm khát những miếng bánh họ cầm ở trên tay.

Thưa cha, thế mà, hai anh đó mới đây còn đi xin mặc ghẹ quần của con đấy... Nhưng khi họ đã được lòng cha xứ rồi thì họ không còn phải lụy ơn kẻ đã cho họ quần nữa.

Tình đời là vậy. Con may vừa đã được Chúa sớm cho hiểu thấu lòng người đời nông cạn làm sao, con đã nhìn thấy ở nơi họ những cái thâm hiểm thật đáng gớm. Nhưng càng hiểu thấu tình đời nông cạn, càng thôi thúc bước con tiến sâu vào lòng Chúa.

Con chỉ biết tin vào lòng Chúa, và đời chỉ là một bài học làm cho con tín nhiệm vào lòng Chúa hơn.

  Trang Trước    Trang Tiếp