Trốn Lần Thứ Hai

Trước khi đến Thái Nguyên, con vẫn đinh ninh rằng: Thái Nguyên là một nhà xứ có cha Dòng Thánh Ða Minh Y Pha Nho làm chính xứ, thì chắc đấy có thể là một nhà xứ kỷ luật, và có lẽ sẽ dồi dào tình thương yêu nhau hơn?

Nhưng khi đã ở đó mấy ngày, con mới nhận thấy rõ mọi cái con nghĩ điều lộn ngược lại. Mà cái tệ hơn hết, là cái phân giai cấp giữa Tây và Việt.

Một thí dụ bé nhỏ con muốn dùng để khỏi phải va chạm đến các cố Tây Y-pha-nho. Một thằng cậu bé con cha Y-pha-nho, nó có quyền độc nhất trên lũ cậu con cha phó Việt Nam, mặc dầu nó là một thằng cậu mới vào tu, mà chúng con là những người đã đi tu trước hắn những hai ba năm. Theo luật, thì không kể con cha chính hay là cha phó, hễ cứ anh nào đi tu trước là được ở địa vị trên. Nhưng đây ngược lại. Và bởi thế, con phải chịu tòng phục tất cả những cái ngoại lệ, nhưng vì quan trên ép.

Ấy là con chỉ xin dùng một thí dụ nhỏ nhoi như thế, để cha hiểu về những vấn đề to tát hơn, phân tách hẳn, và rất chênh lệch giữa cố Tây và Việt.

Cái đó đã là cái khó chịu. Và con bắt đầu "ghét" các cố tây từ đấy. Rồi con chỉ ao ước khi nào con làm Ðức Cha, thì con sẽ "tẩy chay" hết các "cụ Y-pha-nho" về nước. Và con lại ao ước tìm lối "ra đi".

Trưa hôm sau con trốn. Trước khi ra đi, con có vào nhà thờ chào viếng Chúa, phó mình cho Ðức Mẹ, và khấn xin các linh hồn luyện tội phù trì che chở cho con về đến nhà bằng yên. Luồn lỏi qua hai ngày đàng con mới về được đến nhà. Lòng vừa mừng lại vừa lo. Con nghĩ mãi không biết nói cách làm sao để cho cái tội trốn của con nó ra nhẹ trước mặt thày mẹ?

Sau con tính nước đôi thế này: Hễ về nhà mà xem tình hình có thể yên được, thì con sẽ thú thật là con trốn. Bằng không thì cứ nói là cụ cho về chơi... Nhưng lòng không thể định yên được khi gian nan đến...

Vừa bước chân vào đến cổng, thoạt trông thấy con thân hình tiều tuy, bẩn thỉu, áo quần tơi tả, mặt mũi lấm lem, tay chân sạm nắng, thày có lẽ đoán ngay ra sự thật, là con đã trốn. Thày liền lên tiếng mắng nhiếc om sòm, và xua đuổi con đi như một đứa ăn mày. Cũng may, hôm ấy giá không có bà trẻ Khóa con ở đấy can thiệp thì thế nào con cũng bị thày cho con một trận đòn nên thân. Bà lại ôm con vào lòng, mơn trớn và dỗ con đừng khóc nữa.

Vừa khi ấy mẹ đi chợ về, con hy vọng còn chút yên ủi nơi lòng mẹ. Con liền chạy ra định ôm choàng lấy mẹ, nhưng mẹ giật lui lại, hai mắt căm hờn nhìn con. Như không một chút thương hại, mẹ lên tiếng hạch con:

- Ðã đâm đầu trốn về phải không? Vô phúc cho cái đồ khốn nạn!

Rồi mẹ cứ tiếp tục giảng cho con một bài thật dài, và cứng rắn cũng chẳng kém gì bài của thày. Con lấy làm nhục nhã quá, ngồi bên một gốc cột, và chỉ biết lấy nước mắt để minh oan.

Con muốn thú thật là mình trốn lắm. Nhưng vừa rồi, vì sợ thày đánh, con đã cố gắng bênh chữa cho mình là được phép về thăm nhà.

- Cái mặt như thế mà mày dám nói là được phép về thăm nhà à?

- Vâng, thật ạ, nhưng dọc đường con bị người ta bắt nạt, và cướp hết cả đồ đạc của con. Tuy thế, trong nhà không ai tin là con nói thật. Và cho được rõ thực hư, mẹ con nhờ cậu Nhượng viết thư ngay lên hỏi cha phó Nghĩa xem sao.

Ở đây, con nhớ lại một cử chỉ rất thân mật của em Anna Maria Tế. Xa em lâu ngày, nay mới được gặp em, thật không thể nói được sự sung sướng của con. Trốn đi từ Thái Nguyên, trong túi con vỏn vẹn chỉ có năm đồng xu. Con đã dành lại được một xu rưỡi, để mua lấy năm cái bánh phong nhỏ bằng ngón chân cái, đem về làm quà cho em. Còn ngoài ra con phải đi ăn xin độ đường, nhờ vả xe cộ để chạy trốn. Năm chiếc bánh bé nhỏ ấy là một sự hy sinh cao quí của con. Vì con phải đi bộ từ Bắc Ninh đến bến đò Hồ, trên con đường 12 cây số, dưới sức nóng nực của tiết hè. Con đã bao lần muốn dùng một xu rưỡi ấy vào việc giải khát. Nhưng nhớ em, con lại quên, và nhất định nhịn khát để mua cho em một chút quà. Có lẽ em Anna Maria không biết đến nông nỗi cay cực ấy!...

Nhưng em rất thảm hại, khi thấy anh vừa về, thân thể đã tiều tụy, mà còn bị nhà mắng mỏ thậm tệ như thế. Em không nỡ lìa anh. Và từ lúc gặp anh, em cứ ôm choàng lấy anh, vỗ về, hôn hít, dụ dỗ anh nín đi, đừng khóc nữa.

Con xin thú thật, giả như không có những cử chỉ thân ái ở nơi đứa em yêu quí ấy, con không còn thể tưởng được, đây là gia đình quí mến của con. Tuy vậy những cử chỉ thân mật của em Anna Maria không làm cho mắt con khô ráo được phần nào. Con khóc suốt ngày hôm ấy, và vẫn tiếp tục khóc cho đến mấy ngày sau. Em Tế chỉ chịu buông con khi phải đi học mà thôi (lớp học kỳ hè).

Nghe hai bài giảng dài liên tiếp, con cảm thấy mệt mõi quá sức. Lúc đầu thì con toát mồ hôi, sau lại cảm thấy ớn lạnh, và buồn ngủ. Con bèn ngả lưng lên chiếc chõng tre, và đánh một giấc.

Bấy giờ con mới thấy dễ chịu, và thèm ăn. Và tuy con chưa dám hở miệng xin, nhưng mẹ cũng đã dọn sẵn cho con một bát chè đậu đen, và hai cái bánh dầy nhân đỗ. Mẹ đem đến bàn, và bảo con ngồi dậy ăn. Nhưng vừa thấy mẹ, và nghe tiếng mẹ nói, lòng con lại cảm thấy cái gì làm cho con tủi nhục... con lại gục xuống khóc, và trả lời:

- Em không đói.

Mẹ lại giảng cho con một bài nữa. Nhưng bài giảng này mẹ nói hết sức nhỏ nhẹ, trách con chẳng thành thật một tí nào. Chiều ấy, con chỉ đi đến nhà thờ viếng Thánh Thể chốc lát, rồi tối con đi ngủ sớm. Con chẳng muốn truyện trò với ai cả, và ai có hỏi, con cũng chỉ trả lời vắn tắt. Còn ngoài ra con chỉ khóc. Trong hai ngày liên tiếp con cũng ăn uống rất ít, và chỉ có một mình em Tế bảo con ăn thì con mới ăn, còn ai đến mời con, con cũng từ chối rằng: Em không đói.

Sau ba ngày không cầm được nước mắt, hai mắt con sưng húp lên. Rồi tiếp đấy con bị một cơn đau mắt nặng. Luôn một tuần lễ con phải nằm trong xó tối, không thể có một chút ánh sáng nào lọt thấu được, vì chỉ hơi có ánh sáng một tí là mắt con nhức chói lên, như nóng bỏng. Cả ánh đèn dầu ban đêm mẹ đem lại giường con để soi muỗi, cũng làm cho mắt con tuôn ra hằng dòng nước.

Chỉ có một điều gây nên nông nỗi ấy, là con quá tự tủi. Con cứ nghĩ ngợi mãi có một câu: Biết là con trốn, sao thày mẹ không hỏi cho biết căn do tại sao mà con trốn? Ðể đôi lời con có thể giãi bày được sự thể khiến con phải trốn.

Ðằng này, chưa gì cả, cũng chưa kịp chào hỏi ai, đã bị thày mẹ la mắng om sòm... Ðã đành thày mẹ có quyền phạt tội con trốn. Nhưng cũng nên hiểu cho đứa con đau khổ ấy rằng: Người ta không bao giờ trốn cái được yêu cả. Nên việc con trốn, ít ra cũng có phần nào có lý?

Thật ra, con cũng không có phép ra điều kiện cho thày mẹ xử đoán việc con. Nhưng vì như con đã thưa thật rằng: Con hay tự tủi lắm. Một khi con đã có ý ngay mà bị hiểu lầm, thì con không tài nào cầm nổi được nước mắt. Con cũng hiểu, chịu oan ức vì Chúa thì được công nghiệp. Nhưng làm gì con đã có nhân đức cao đến độ ấy?

Linh hồn con còn như cây non, gió lay chiều nào, ngã theo chiều ấy, chứ đâu đã cứng rắn đủ để có thể tự chủ được mình? Khi con mới về nhà, và nghe đủ điều thày mẹ la mắng, con đã tưởng đến và thèm khát một tấm lòng như người mẹ nuôi con mấy năm trước. Nhất là khi con vừa bị bệnh, con ước ao, giá có mẹ nuôi của con ở đây thì yên ủi biết bao!

Nhưng không nhẽ vì lỗi con trốn, mà thày mẹ đã nỡ dứt đứt mối tình yêu con đi!

Nước mắt của con chảy ra ba ngày, tiếp đến cơn đau mắt dữ dằn của con, đã làm cho thày mẹ nguôi giận, và hiểu con một phần nào rồi. Bây giờ thay vì la mắng, thì yên ủi, thay vì lãnh đạm, thì chăm nom săn sóc.

A! con nói lãnh đạm, có lẽ là hơi quá? Thật ra, mẹ không khi nào lãnh đạm với con cả. Từ hôm con trốn về, mẹ vẫn lo lắng cho con từng ly từng tí. Nhưng chỉ có cái con tủi, là mẹ chẳng tin con một cái gì hết.

Những ngày con chịu bệnh, chính tay mẹ lo cơm cháo cho con. Theo lệnh bà lang, con phải kiêng khem đủ thứ. Nhưng mẹ còn nhặt nhiệm hơn, bắt cả nhà phải kiêng không được nói truyện gì về việc con trốn cả. Ðàng khác mẹ cứ rót mãi vào tai con những lời yêu đương. Làm cho không còn tài nào chẩy nước mắt ra được nữa.

Do đó bệnh đau mắt của con thuyên giảm rất mau lẹ. Khi mắt con đã khỏi, mẹ lo tìm thuốc dưỡng mục cho con dùng. Ðàng khác, mẹ lại sắm sửa để đưa con lên tạ lỗi cha Yoseph Nhã, và xin để con ở lại với người.

Chuyến đi này, con hoàn toàn phải nghe theo ý mẹ, còn phần con lúc nào cũng chỉ là từ chối. Con không muốn sống trong cái nhà xứ tồi tệ ấy nữa...

Trái lại, mẹ thì mẹ không có thể tin được cha Y. Nhã lại có những thái độ bẩn thỉu như con nói. Mẹ cứ ghè con mà nói:

- Thày Cả là thánh, là đấng thay mặt Chúa, có bao giờ lại ăn ở như thế được? Chẳng qua vì con "khốn nạn" quá rồi, không còn muốn tu tỉnh gì nữa thì con nói thế...

Thế là con lại phải theo mẹ lên Hữu Bằng để chịu "tù" ở trong nhà xứ.

  Trang Trước    Trang Tiếp